Giă Từ Quê Mẹ

(Ngày 30 tháng 4 năm 1975)

của Lê Bá Thông






Trời đổ mưa ào xuống khi chiếc tàu đánh cá chạy ngang qua ngă ba sông Nhà Bè, một hướng chảy về Cát Lái, một ngă xuôi ra sông Ḷng Tào, Soài Rạp. Người tỵ nạn đứng ngồi trên sàn tàu, chen chúc nhau dưới các tấm ny lông, thân h́nh co ro với chiếc áo mưa, trong khi gió sông thổi mạnh phía sau lái, làm tăng tốc lực thêm cho con tàu đi biển loại nhỏ. Các quân nhân Lôi hổ, hờm sẵn súng tiểu liên, phóng lựu M79, hướng về mặt sông, nơi thuyền bè của dân di tản đang xuôi ra biển Vũng Tàu.

Trận mưa đám mây không kéo dài lâu lắm, gió mạnh đă bắt đầu dịu xuống và bầu trời trở nên quang đảng, ánh nắng buổi xế trưa lại le lói xuyên qua các vầng mây xám đen, đang bay về phương trời xa. Từ hướng kho xăng Nhà Bè, hàng chục chiến đỉnh Hải quân thuộc các Giang đoàn Xung Phong, Thủy Bộ, Trục Lôi... đang chậm răi giang hành về hướng Sài g̣n. Mọi người trên chiếc tàu đánh cá thắc mắc, không lẽ cấp Chỉ huy của toán chiến đỉnh này không biết ǵ về việc Tướng Dương văn Minh đầu hàng, Sài G̣n đă thất thủ và Bộ Tư lệnh Hải quân đă bị Việt Cộng vào chiếm rồi hay sao? Lúc bấy giờ đă hơn 12 giờ rưởi trưa, một vài người khoác tay về phía các giang đỉnh đang dẫn đầu, ra hiệu cho các thủy thủ mặc quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt. Dân di tản muốn liên lạc và bảo những chiến hữu này hăy quay tàu chạy ra biển, thay v́ tiếp tục về hướng Sài G̣n.

Phía trước mặt bên tả hạm, có vài chiếc tàu cũng lớn xấp xỉ bằng tàu đánh cá này. Các nhân viên trên vài chiến đỉnh loại nhỏ của Liên đoàn Thủy Bộ và Tuần Thám có lẽ như đă nhận hiểu thủ hiệu. Họ quay chiến đỉnh trở lại, và lái tàu chạy theo sau những tàu đánh cá, rồi một vài người trong thủy thủ đoàn cổi áo giáp, đeo các sợi dây thừng, leo lên tàu lớn và bỏ lại chiến đỉnh trôi bập bềnh trên sông. Cũng như nhiều quân nhân Hải quân không có gia đ́nh ở Sài G̣n, những thủy thủ này đă quyết định theo các tàu thuyền di tản, v́ thấy mọi người đều bỏ quê hương ra đi.

Tôi ở trên soái đỉnh của Giang đoàn Thủy Bộ và đang cùng đoàn chiến đỉnh gần 50 chiếc, hải hành về tŕnh diện Bộ Tư lệnh Hải quân tại bến Bạch đằng. Cô Y tá thuộc Bệnh viện của Căn cứ báo cáo cho tôi, về việc Tướng Minh đă đầu hàng quân Cộng sản miền Bắc cũng như ông vừa ra lệnh tất cả các đơn vị thuộc Quân lực Việt Nam Cọng Ḥa buông súng và ngưng chiến đấu. Tôi sững sờ, không tin những ǵ đang nghe, rồi nghẹn ngào uất ức và đau buồn dâng tràn trong tim.

Khi chiếc tàu đánh cá chạy ngược chiều với chiếc chiến đỉnh trang bị hải pháo và pháo tháp nặng nề này, Đại tá Ch. là một Sĩ quan Hải quân ngành Cơ khí, người chỉ huy tàu đánh cá, ra lệnh chuẩn bị ngừng tàu lại. Ông ấy vừa nhận ra người bạn Hải quân, một Sĩ quan cấp bậc Trung tá ngành chỉ huy, thuộc Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè, đang đứng trên boong soái đỉnh.

Ông dùng loa nói chuyện và thông báo t́nh h́nh cho tôi, Đại tá Ch. cho tôi biết về t́nh trạng rối ren tại Sài G̣n và chấp thuận cho gia đ́nh tôi quá giang, đồng thời yêu cầu tôi giúp ông ta đưa tàu này ra biển. V́ người tài công có nhiệm vụ lái tàu, phút cuối đă không đến được và cho đến bây giờ trên tàu không có dụng cụ hải hành, bản đồ... và chỉ có một la bàn từ dùng cho việc định hướng lái tàu. Sài G̣n đă mất vào tay Cộng sản và không c̣n ǵ để tiếp tục chiến đấu nữa cả. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, như người mất hồn, tôi gọi máy hỏi ư kiến thuyền trưởng các chiến đỉnh và tất cả đều khuyến khích tôi nên cùng gia đ́nh theo tàu đánh cá ra khỏi vùng lửa đạn. Họ đồng ư và hứa với tôi, sẽ t́m phương tiện để đưa gia đ́nh của họ, đang c̣n kẹt ở Sài G̣n, di tản ra biển t́m Tự do. Tôi ngậm ngùi chào từ giă các chiến hữu thân mến đă cùng tôi tử thủ và chiến đấu suốt đêm qua, chúc mọi người gặp nhiều may mắn. Sau đó tôi đưa vợ tôi, Minh và bốn đứa con đang c̣n nhỏ, lên chiếc tàu đánh cá rồi phụ giúp Đại tá Ch. vận chuyển tàu giang hành ngang qua kho xăng Nhà Bè.

Từ xa một cột khói đen bay lên cao từ hướng Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận, suốt đêm bị địch pháo kích phá hủy tan tành và gây nên những đám cháy dữ dội. Tàu ngưng máy một lúc để chúng tôi đón vài nhân viên Hải quân thuộc Căn cứ Yểm trợ này lên. Sau đó mọi người trên tàu đánh cá quyên góp tiền Việt Nam mà họ c̣n mang theo, nay đă trở thành vô giá trị đối với người di tản, chuyền xuống các chiến đỉnh cho các thủy thủ, hoặc v́ lư do này hay lư do khác, quyết định ở lại với gia đ́nh và quê hương. Các người Tàu đưa hết những xấp giấy 1000 đồng cho quân nhân Hải quân với tất cả tấm ḷng. Nhân viên giang đỉnh cũng cảm động cám ơn, rồi họ mang ra ba bốn bao gạo, vài thùng ḿ gói tặng cho người di tản. Họ ngậm ngùi chúc nhau nhiều may mắn và biết đây là lần đầu tiên họ gặp nhau và cũng là lần cuối. Các thuyền trưởng chiến đỉnh đưa cho vị Chỉ huy cũ của ḿnh vài bản đồ khu vực sông Ḷng Tào, từ Soài Rạp ra đến Vũng Tàu, loại bản đồ hành quân của đơn vị Bộ binh. Họ c̣n cho tôi biết là chiếc thương thuyền Việt Nam Thương Tín bị Việt Cộng chận bắn trên sông Ḷng Tào khoảng nửa giờ trước đây, vào lúc 1 giờ 30 chiều, một số người bị tử thương, trong số đó có nhà văn Chu Tử. Khi nghe được tin này, Đại tá Ch. và tôi quyết định thay đổi giang tŕnh, thay v́ dùng sông Ḷng Tào chật hẹp dễ bị tấn công bởi quân Cộng sản, tôi sẽ vận chuyển tàu theo lộ tŕnh sông Soài Rạp, mặc dù khó hải hành nhưng v́ sông rất rộng nên có thể tránh được nguy hiểm và an toàn hơn.

Trên sông tàu thuyền tấp nập với những tàu chở hàng LCU của Quân vận, ghe đánh cá dân sự, Giang tốc đỉnh PBR thuộc các Liên đoàn Tuần Thám, phăng phăng rẽ ḍng nước đục ngầu, đầy bùn phù sa và rong bèo lẫn lục b́nh, cuồn cuộn trôi ra phía vịnh Vũng Tàu. Gió mát thổi từng cơn từ phía hàng dừa nước hai bên bờ, mặt nước sông như sáng hẳn lên dưới ánh nắng chiều, lóng lánh ngàn v́ sao nhỏ phản chiếu từ gịng sông uốn khúc. Vài con chim c̣, chim vạc với đôi cánh dài nhẹ lướt qua những lùm cây thấp bên gành, cạnh rừng lau sậy mọc lưa thưa. Thiên nhiên vẫn b́nh thản như không có ǵ thay đổi trước mắt dân di tản. Tuy nhiên mọi người đă nhận thức rằng kể từ giờ phút này, họ bắt đầu một cuộc đổi đời mà định mệnh đă làm cho dân miền Nam phải xa ĺa quê cha đất tổ và bỏ lại tất cả những ǵ quư giá nhất của ḿnh v́ không muốn sống dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những việc ǵ sẽ đến trong giờ phút sắp tới đều có ảnh hưởng đến cả cuộc đời của người đi t́m ánh sáng Tự do và an toàn cho cá nhân cũng như gia đ́nh họ.

Tàu tiếp tục giang hành với vận tốc chậm v́ ḷng sông Soài Rạp thay đổi, sâu cạn bất thường, nếu không có kinh nghiệm, tàu sẽ bị mắc cạn, do đó tôi cẩn thận theo sát các chiến đỉnh chạy trước để tránh vùng nước cạn. Thỉnh thoảng tôi ngừng tàu lại, và đón vớt quân nhân đủ mọi cấp thuộc các Quân binh chủng di tản trên các tàu nhỏ, chật hẹp, sắp bị ch́m, lên tàu đánh cá này. Từ xa vịnh Vũng Tàu đă thấy xuất hiện về phía tả hạm với ngọn núi nhô lên cao và ngọn hải đăng trắng xóa nằm trên đỉnh.

Trên không thỉnh thoảng vài chiếc trực thăng thuộc Không quân Việt Nam Cọng ḥa trực chỉ về hướng đông, có lẽ bay ra Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Từ trong Căn Cứ Yểm trợ Tiếp vận Cát Lỡ, các chiến đỉnh Hải quân và Quân vận, chở đầy người tỵ nạn, chen chúc chạy ngang Băi trước Vũng Tàu, xuôi ra biển. Về phía nam, các chiến đỉnh thuộc đơn vị Hải quân từ Vùng 4 Sông Ng̣i nối đuôi nhau đổ ra cửa sông. Một vài chiếc cặp lại bên cạnh các thuyền đánh cá lớn, hay chạy theo các chiến hạm Hải quân để yêu cầu được quá giang, v́ chiến đỉnh của họ quá nhỏ, không thể đi xa ra biển khơi. Tàu đánh cá của Đại tá Ch. cũng lại vớt nhiều gia đ́nh Hải quân trong đám chiến đỉnh này.

Vào khoảng 7 giờ tối, tàu tiếp tục chạy về phía đông nam, sau khi tôi dùng chiếc la bàn từ để định hướng và lấy ngọn hải đăng trên đỉnh núi Vũng Tàu làm chuẩn. Dân di tản ngồi chen chúc ngổn ngang trên sàn tàu nhỏ xíu, phía trước và trên boong thượng phía sau lái, mọi người ngồi yên tại chỗ, không thể di chuyển đi đâu được cả. Tổng số người đi t́m Tự do, kể cả người Tàu Chợ Lớn và gia đ́nh, đă lên đến trên dưới 300 người, so với khoảng gần 200 người lúc tàu chạy ngang qua Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè vào lúc hơn 2 giờ chiều ngày hôm nay.

Mặt trời từ từ lặn xuống sau rừng cây đang đổi qua màu đen thẫm về phía tây bắc. Chiếc tàu chở đoàn người tỵ nạn, dật dờ, lắc lư trên những đợt sóng dài giữa biển cả mênh mông, trong một buổi hoàng hôn màu tím nhạt, bắt đầu buông phủ và bao trùm vũ trụ. Từng tia sáng chớp lên rồi tắt ngúm từ ngọn hải đăng Vũng Tàu như cây đèn trời giữa đêm tối, gieo trong ḷng người di tản nỗi buồn cô đơn trống vắng. Họ cảm thấy tủi thân cho số phận ḿnh, những người đi đày như dân Do Thái, lênh đênh trên chiếc tàu Exodus đi t́m đất thánh ngày xa xưa. Tương lai và thân phận của người Việt tỵ nạn tựa màn đêm bao quanh họ. Hy vọng được cứu vớt thật là mong manh như t́m nước uống trên sa mạc, tùy thuộc vào sự may mắn và định mệnh đẩy đưa.

Khoảng 10 giờ tối khi tàu cách xa bờ biển Vũng Tàu khoảng chừng 20 hải lư, mọi người đang chập chờn t́m quên qua giấc ngủ sau một ngày tinh thần căng thẳng và mệt mơi, bỗng họ chợt tỉnh dậy v́ nghe tiếng xôn xao từ pḥng lái. H́nh như Đại tá Ch. cho biết có một thương thuyền lớn thắp đèn sáng trưng phía bên tả hạm cách chừng một hải lư. Ông ra lệnh tàu tăng máy và hướng về chiếc thương thuyền đó. Khi đến gần, ông dùng ống loa và kêu gọi vị thuyền trưởng xin được phép tiếp cứu và cho dân tỵ nạn Cộng sản lên tàu.

Đây là một thương thuyền Đại Hàn trên đường về bến tại Hán Thành. Ông thuyền trưởng thương thuyền đặt loa cho biết là ông không thể cho người tỵ nạn Việt Nam lên tàu của ông được v́ không có phép của công ty và của chính phủ Đại Hàn. Họ đang trong t́nh trạng phân vân chưa biết phải đối phó thế nào trước t́nh h́nh sụp đổ quá nhanh của miền Nam Việt Nam. Ông thuyền trưởng rất thông cảm và thương hại muốn giúp người Việt Nam đang gặp hoạn nạn. Nhưng v́ vấn đề chính trị mà Quốc gia ông phải đối phó, chính phủ Đại Hàn cần thời gian cân nhắc, t́m đường lối chính trị hợp với họ, trước khi đi đến quyết định trợ giúp công dân của Việt Nam, một nước trước đây là đồng minh của Đại Hàn trong cuộc chiến vừa tàn. Sau khi dứt lời, ông ta cầu chúc Thượng đế ban phước lành cho mọi người, và hy vọng những thương thuyền của các nước khác, đă có chỉ thị cho phép nhận người tỵ nạn Việt Nam, sẽ đón những người di tản lên tàu. Thế rồi chiếc thương thuyền mang quốc tịch Đại Hàn đổi hướng đông bắc, trực chỉ về phía đảo Hải Nam, để lại sau lưng, trên biển một con tàu nhỏ chở đầy những người di tản thất vọng, đang ngậm ngùi nhận thức được cái giá tủi nhục đầu tiên phải trả khi bị nhân loại ngoảnh mặt từ chối giúp đỡ.

Bầu trời đầu tháng 5 dương lịch, đầy sao lấp lánh dán trên ṿm đen vĩ đại. Vầng trăng nửa vành tỏa tia sáng nhạt xuống vùng biển Đông, không đủ soi đường cho các chiến hạm, tàu đánh cá, ghe Kiên giang, xà lan, thuyền buồm... đang bập bềnh hướng về phía mặt trời mọc và hy vọng được cứu giúp bởi người bạn đồng minh Hoa Kỳ.



A FAREWELL TO MOTHERLAND

(30 April 1975)

by Thong Ba Le



The rain poured down when the fishing trawler was about to pass the intersection of Nha Be, Gia Dinh and Dong Nai on Saigon River. One branch of the river made a turn toward Cat Lai; the other one changed direction to the East Sea and later divided again into Long Tao and Soai Rap Rivers. The crowd consisted of people of all ages snuggled side by side under nylon tents, umbrellas, and raincoats to hide from the afternoon shower and strong wind blowing from the stern that helped to increase the speed of the big boat.

Finally, the short rainstorm began to stop and the blue sky gradually appeared after the gray-dark clouds slowly drifted away to the west. The sunrays pierced through the clouds and sunshine returned over the Vietnamese refugees who evacuated from the fallen city of Saigon.

From the direction of the Nha Be fuel depot, tens of South Vietnamese Navy gunboats were moving in a column formation. They were combat units of River Groups, Patrol Groups, or Special Mission Groups of the Navy Riverine Force. People aboard the fishing trawler were so surprised to see the gunboats with sailors in a state of combat heading toward Saigon. They wondered if the Commanding officer of the group was aware that Saigon had fallen and the North Vietnamese Communist now occupied the Republic of Vietnam’s Navy Headquarters. The South Vietnamese President, Duong Van Minh who came into office three days before, had surrendered to the Communists. It was about 1230 on April 30, 1975 and the refugees tried to signal to the sailors on these gunboats to turn around rather than continuing on to Saigon.

Within the group of boats, I stood on the deck of the CCB gunboat, which continued to report to the South Vietnamese Navy in Saigon for further instructions, because I could not establish communications with the Senior officers at headquarters. Last night, the heavy attack of the enemy’s 122mm-rockets heavily damaged and almost destroyed my base. I decided to lead all gunboats whose Commanding officers had left their units in previous days to go abroad with their families.

On the starboard side of the formation, I saw sailors taking off their flak jackets, navigating their small boats to follow big civilian ships, and trying to climb up the ropes to get aboard. They left their gunboats floating in the murky water of a historic river that witnessed the departure of the people from a defeated nation.

The nurse from my base came up from below deck and told me that General Duong Van Minh had just surrendered to the North Vietnamese Communist. He ordered all units to drop their weapons and to stop fighting against the enemy of the people. I could not believe what she had just said. Tears began to flow down my cheeks, blurring my eyes. I felt disgraced by the leaders; they were violating and taking away by force the honor of a proud nation. I was outraged as to what was happening to us, the sailors, who did not want to give up our ship. Only cowards who were afraid of death made such decisions. We were not afraid, especially of dying for our country, for the cause of Freedom and Democracy.

The Captain of the fishing trawler ordered his crew to a stop after navigating the vessel close to the Command and Control gunboat of his Navy friend. I saluted Captain C. when the two vessels got alongside. He told me about the bad situation in Saigon early this morning when he had to get underway in a hurry without a navigator aboard. Capt. C. was an engineering officer and had no experiences navigating the trawler out to sea. He also confirmed the surrender of President Duong Van Minh to the Communists.

Finally, he asked if I would be able to help him and the people on board to navigate the vessel through the Long Tao-Soai Rap River and guide it to the open sea. I hesitated a moment, then radioed to the skippers of the gunboats. I informed them of what Captain C. had told me including his request for me to navigate his vessel, which was well guarded by hired special force soldiers.

All my men advised me to take my family and get aboard the vessel to freedom; they would follow me after getting their own families. I felt conflicting emotions raising up inside of me as I sincerely thanked my comrades-at-arms that had fought valiantly during the enemy attack the previous night. I also apologized for not remaining with them until the end of this heartbreaking chapter in our nation’s history.

After saying good-bye and wishing one another good luck, we separated in opposite directions. I helped my wife, Minh, and our four young children to climb aboard the trawler while my comrades-at-arms continued their journey to the unknown future. I took the second in command and began to navigate the 300+ ton vessel with more than 200 people aboard including a Chinese-Vietnamese from Cho Lon district who bought this modified fishing trawler to escape for freedom.

We passed the Nha Be oil depot when the fire smoke from the Naval Support Base at Nha Be was still hanging thickly in the sky. I stopped the engines to recover my personnel from the base. Many of them decided to stay behind for different reasons. Some said that they had planned to find a way to the sea after they found their families. The Chinese and other passengers got all the Vietnamese “dong-piasters” that were no longer valuable to the refugees. The sailors gave them bags of rice and instant noodles. They said good-bye and good luck to one another, people whom had never met each other before and would never meet again in their lifetime.

Before they left, the sailors also told me that Viet Cong ambushed a merchant ship, Viet Nam Thuong Tin, on the Long Tao River, about half an hour ago at 1330. They shot rockets and killed many passengers aboard; among them was Mr. Chu Tu, one of the South Vietnamese famous writers. Having heard this, Captain C. and I decided to navigate the trawler through Soai Rap River instead of Long Tao River. Although it was more difficult to navigate through this shallow but wide river, it was also easy to observe and to avoid being hit by Communist B-40s set up ashore. One of the gunboat skippers gave us an Army map of the Vung Tau, Soai Rap area, and a few navigation aids. I needed those tools to help me fix and determine the position of the vessel because all I had before was a magnetic compass.

We got underway again at approximately 1415 hours and proceeded to the Soai Rap River, following the wake of the boats cruising ahead. There were all kinds of boats and vessels heading toward Vung Tau harbor. I saw many Landing Craft Utility (LCU) boats of the Army Transport Corps, several Landing Craft Mechanized (LCM), Landing Craft Vehicle Personnel (LCVP), and a few Patrol River Boats (PBR's) of the South Vietnamese Navy. I also glimpsed civilian junk boats, vessels, and others steaming at their maximum speed. The whole country was still upset and confused from losing their beloved homeland. The people were in a panic when they heard about the advancement of the North Vietnamese Communist toward the capital of the Republic of South Vietnam. They tried to find any seaworthy means to escape the dictatorship regime of the Communists.

The afternoon breeze blew softly from rows of low water palm trees on the riverbanks. The surface seemed to light up under the late afternoon sunshine, blinking with thousands of small imaginary stars reflected from the calm surface. A few long-necked cranes spread their wide wings, their shapes reflected in the smooth surface while sea birds slowly flew above the reeds along both sides of the river. Nature seemed to ignore the changing hand of a nation. It appeared normal to the eyes of the evacuees who already were aware of the events that caused them to leave behind their livelihood including their birth places, tombs of their ancestors, and their beloved ones. They also knew that anything that happened to them on this journey of destiny could affect their future. They were the refugees who escaped from communism to seek freedom for themselves and their families.

****

The fishing trawler continued its voyage to an unknown destination at sea. I reduced the speed to be safe in an unpredictable current over the varying depths of the Soai Rap River. We stopped our vessel from time to time and recovered people of all ages and from all classes of society from their small boats that were overloaded and sinking. The number of passengers increased when I saw the hilly sites of Vung Tau harbor with its white lighthouse on top the highest mountain. From time to time, helicopters from the lost SVN Air Force headed to the open sea toward the designated positions of the US Seventh Fleet waiting to receive South Vietnamese evacuees from the fallen capital city.

From the direction of the Cat Lo Naval Support Base, several vessels including LCU's, LCM's, and all kinds of gunboats and junk boats were hurriedly heading to the East Sea. Hundreds of small boats also rushed out from the Cuu Long (Mekong) River. Navy boats of the 4th Riverine Force followed fishing trawlers, merchant ships, or Navy ships to request permission to aboard because their gunboats were not sea-going vessels.

We stopped our trawler to rescue many passengers from sinking boats. As the sun was setting, we passed Vung Tau harbor. I maneuvered the vessel out of the channel and changed course toward the southeast. In order to get a possible fix on the ship, I used the old magnetic compass to get the bearing from Vung Tau’s lighthouse and used chopsticks to measure the distance on the map. We did not have navigation aids aboard. Captain C. said that in the last minute, the navigator who kept all navigating tools could not make it to the fishing trawler.

The crowded evacuees found room where they could. Some were seated, others standing side by side on the front deck, upper deck or lying next to the small conning station. There was no place to go and no room to move around. According to Capt. C., the number of passengers was approximately 400 compared to about 200 when the vessel stopped at Nha Be Naval Support Base at 1400 hours this afternoon. He also told me that in their rush to leave Saigon, they were short on diesel fuel. We needed to find a supply source to replenish the fuel in order to reach the US War ships of the Seventh Fleet in the open sea.

The sun had set behind the range of dark green trees ashore from the northwest, behind the lonely vessel heading eastward. The evening stars began to show their blinking lights in the purple petals of the universe. The long waves rolled toward the far away shoreline, one after another they rocked the boat back a forth comforting the Vietnamese refugees. Light rays from the Vung Tau lighthouse frequently pierced the dark night with their bright streams.

It was almost 2200 hours when the vessel drifted from Vung Tau. Beside the noisy sound of the engines and the whisper of the sea, the people were so quiet. They were deep in the thought of being on the exodus much like the people of Israel were looking for their land long ago. They kept their hope although they realized that the chance of being rescued in the East Sea was as likely as finding water in the desert. They would let destiny guide their lives and wait for the uncertainty of luck.

The evacuees were awakened by loud voices from the bridge. The person on watch reported to Capt. C. and me that there was a merchant ship about one nautical mile on the port side of our vessel. We maneuvered toward the big ship. When we were closer, Capt. C. used a loud speaker to talk with the Captain of the ship. Captain C. requested permission for everybody to get aboard the merchant ship. It was a South Korean vessel with homeport in Seoul. Its Captain, who spoke fluent English, denied our request because he did not have the authority to let people board. He sadly explained to us that because the fall of South Vietnam happened too quickly, his country as well as his Maritime Company did not yet have a policy or procedures in place to deal with the situation in Vietnam. Politics and national interests prevented them from reacting; the Republic of South Korea did not yet give orders to rescue Vietnamese refugees at sea.

The words from this Captain confirmed the abandonment of Vietnam of a previous allied country that had fought side by side to stop the aggression of the International Communist Party-Russia, China, and North Vietnam. The ideals of the Free World Community for Freedom and Democracy to all nations were limited to those who had the power to defend themselves against the Red Communists. When the time came, the weaker was the loser to the dictatorship because the Free World Community turned their back and refused to help due to their own interests.

I was angry at that thought and was very upset with myself for having devoted my whole life for the ideals that I believed. Many times, I was almost killed in combat, at the sea, north of seventeenth parallels or in the jungles near the Viet Cong secret zones at Quang Nam Province. Last night, I defended my base until the last minute of the unwanted war. Now, in the dark cool night in the middle of the East Sea, I found the first lesson of the truth. Everything was politics and for national interests, not for ideals or freedom fighters at all.

The South Korean Captain said a few nice words to comfort the evacuees then he changed course to north-northwest toward the direction of Hai Nam Island with engines all ahead full, and left the scene. He left behind, in the darkness of the night, 400 Vietnamese refugees aboard a small trawler that was running out of diesel fuel, drifting on the waves to find sources of oil from abandoned vessels in the mighty Pacific Ocean.

The clear sky on the first night in May 1975 was decorated with bright stars and a crescent moon in the western sky. Its pale streams could not light up this “Journey of Destiny” of desperate refugees aboard all types of seaworthy vessels heading toward the direction of the sunrise hoping that the US Navy War ships at sea would rescue them.

A rainy day in Virginia
(43 years after "The Fall Of Saigon")