Giă Từ Quê Mẹ

(Ngày 30 tháng 4 năm 1975)

của Lê Bá Thông



(English Version)

Tôi đứng trên cầu tàu Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè, nh́n những chiến hạm thuộc Hạm Đội Hải Quân VNCH đang chạy ngang qua về hướng Vũng Tàu. Trên tàu nào là lính thủy, lính bộ binh, dân sự chen chúc đông nghẹt trên boong trước, boong sau.
Tôi đứng lặng im trong đêm tối, nh́n đất nước sắp tan biến dần trước mắt khi chiến hạm cuối cùng chạy qua khỏi cầu tàu. Tôi muốn níu kéo niềm tin đang xoá nḥa dần hồi trong tâm khảm. Nhưng tất cả chỉ là ảo tưởng tuyệt vọng, sự thật là chúng ta không thua trận đánh tại chiến trường mà địch đă thắng v́ chiến tuyến của ta tự tan ră.
Tôi nghĩ đến nhiệm vụ mà tôi phải đương đầu và quay trở vào pḥng hành quân rồi tiếp tục liên lạc với các đơn vị bạn để phối hợp chuẩn bị cho cuộc tấn công sắp tới của địch quân.

Thượng sĩ Quản Nội trưởng vào thông báo có một vị Sĩ quan xin gặp. Tôi bước ra ngoài, bắt tay người Sĩ quan đàn em thân mến đă mang chiến đỉnh vào đón niên trưởng và thuyết phục tôi ra đi. Tôi mỉm cười cám ơn và vỗ vai người chiến hữu, nhắn nhủ vài lời rồi tiển anh ta xuống tàu trở về đơn vị đang di tản trên sông Soài Rạp.

Đêm nay trời nhiều sao, vầng trăng khuyết chếch về hướng tây nam tỏa nhẹ tia sáng yếu ớt trên ṿm trời sâu thẳm muôn trùng. Ngọn gió cuối mùa xuân thổi nhẹ từ phía sông làm bay mái tóc bồng bềnh của người con trai ba mươi bốn tuổi đời, mà trông già nhiều trước tuổi v́ đă lớn lên trong cuộc chiến, đă chứng kiến và tham gia vào những biến cố của lịch sử. Nhất là trong những giai đoạn gần đây, tôi đă là nhân chứng của cuộc đổi đời mà ḷng người thay h́nh biến dạng một cách không thể tưởng tượng được làm cho tôi bồi hồi thắc mắc về quan niệm sống.
Tôi bước nhanh hơn, mồ hôi ướt đẫm v́ không khí oai bức. Hai quả lựu đạn loại nhỏ đeo trên ngực áo giáp nhún nhảy theo bước chân đi, tôi nắm chặt tay súng M18 quen thuộc, đă làm vật tùy thân cho tôi từ ngày chiến đấu tại vùng tuyến đầu ba năm về trước. Thép súng lạnh chuyền qua ḷng bàn tay tạo cho tôi một niềm tin mạnh hơn.
Với kinh nghiệm chiến trường và tinh thần quyết tử, hai yếu tố chính giúp tôi xem thường những hiểm nguy và những ǵ có thể xảy đến cho tôi.
Tôi đă về đến pḥng hành quân và nhận báo cáo từ các tuyến pḥng thủ, tất cả đều yên tỉnh. Đơn vị bạn cho biết đă phối trí ba Tiểu đoàn Địa phương quân trấn thủ tại các vị trí quan trọng và địch chỉ pháo kích lẻ tẻ, không gây thiệt hại đáng kể.
Tôi biết thời điểm tấn công của địch có thể bắt đầu vào nửa đêm theo như kinh nghiệm tác chiến của tôi. Địch có đến sáu giờ để chuẩn bị chiến trường trước khi trời sáng.
Quả nhiên như dự đoán, vào khoảng hơn 1145 tối, tôi đă bắt đầu nghe tiếng pháo nổ lớn về phía kho xăng Nhà Bè và trước khi một ngày mới bắt đầu, một quả hỏa tiễn 122 ly thứ nhất, thứ nh́, thứ ba... rơi xuống tơi bời, nổ tứ tung khắp doanh trại.
Nhà của dân chúng nằm cạnh ṿng rào căn cứ trúng hỏa tiễn cháy bùng dữ dội. Hai quả rơi vào cổng chính phá tan hai vọng gác. Và rồi địch cứ thế tiếp tục pháo vào các vị trí quan trọng của căn cứ: hai chiếc trực thăng cũng cùng chung số phận, kho đạn trúng hỏa tiễn nổ tung, rồi đến phi đạo, nhà kho lần lượt phát nổ tan tành.
Tôi hướng dẫn một tiểu đội chạy dưới tầm hỏa tiễn rơi ra tuyến pḥng thủ chính tại ṿng rào. Một thủy thủ vừa được thả ra khỏi nhà tù tự nguyện đưa chiếc nón sắt của ḿnh đang đội cho vị Chỉ huy trưởng, tôi lắc đầu cám ơn người thủy thủ trẻ và tiếp tục chạy về tuyến đầu. Cứ mỗi lần nghe tiếng rít của tầm hỏa tiễn, tôi và nhân viên nằm xuống cho đến khi hỏa tiễn rơi trúng mục tiêu nổ tan tành, tất cả đứng dậy và tiếp tục chạy nữa. Có nhiều lúc hỏa tiễn nổ thật gần, đất cát văng tung tóe lên đầu tóc, mặt mũi.
Từ pḥng hành quân ra đến tuyến cuối cùng b́nh thường đi mất khoảng mười phút nay chạy gần hai mươi phút mà vẫn chưa đến. Tôi và nhân viên bổ sung vừa đến tuyến pḥng thủ này, đây là tuyến nằm trên trục lộ chính của đường chuyển quân của địch nếu địch quyết định tấn công căn cứ.
Tuyến được xây cất kiên cố, được trang bị đầy đủ máy truyền tin, đại liên 50 ly, súng phóng lựu... Từ đây tôi có thể quan sát được hết phía sau của căn cứ và nhất là về hướng nhà dân chúng ở. Các vọng gác thay nhau báo cáo thiệt hại. Ngoại trừ những hư hại vật chất cho kho đạn và các nhà kho và vài nhân viên bị thương nhẹ, không có tổn thất về nhân mạng.

Địch pháo ít hơn trước và cũng chưa tấn công bằng đường bộ, có lẽ chúng nó đang chờ tập trung quân số trước khi tấn công quy mô, hay là chúng chỉ pháo gây nhiều thiệt hại cho căn cứ, tôi đoan chắt bây giờ cho đến sáng chúng sẽ pháo dữ dội hơn nữa.
Tôi gọi máy cho pḥng hành quân và được báo cáo là các đơn vị bạn trong vùng cũng đang bị pháo và tấn công mạnh và bị nhiều thương vong và thiệt hại đáng kể. Một tuyến đă bị địch tràn ngập và đang cố gắng mở đường máu rút về hướng sông.
Căn cứ Cát Lái đă mất và địch đang tiến quân dọc theo hướng sông về phía kho xăng Nhà Bè. Giang đoàn bạn đang phản công kịch liệt và một vài chiến đỉnh đă bị cháy v́ trúng đạn B40 của địch.
Tôi dẫn vài nhân viên chạy trở lại pḥng hành quân, bây giờ cũng khoảng chừng hai giờ sáng, tiếng hỏa tiễn và tiếng súng pháo binh nổ rầm trời xen lẫn với tiếng súng đại liên và súng nhỏ nhắc nhở tôi những kỷ niệm Tết Mậu Thân tại Huế, lúc tôi nằm trốn dưới hầm gần 28 ngày giữa ḷng địch.
Hỏa tiễn vẫn tiếp tục rơi vào căn cứ, nhà kho nổ cháy sáng rực trời, xe cứu hỏa của căn cứ cố gắng chữa cháy dưới tầm đạn rơi.

Đến khoảng ba giờ sáng, một loạt hỏa tiễn rơi liên tục, địch bắt đầu pháo dữ dội và chính xác, có lẽ có nội tuyến hướng dẫn nên lần này những mục tiêu quan trọng của căn cứ đều bị trúng đạn nổ tan tành. Tôi biết địch muốn dứt điểm nên pháo mạnh. Tuyến bên trái báo cáo bị thiệt hại và xin rút lui, tôi chấp thuận, sau đó đột nhiên tất cả đèn tắt tối thui, máy truyền tin bị gián đoạn v́ không có điện.
Tôi biết nhà máy đèn lớn của căn cứ vừa bị phá tan v́ hỏa tiễn. Tôi dùng máy PRC 25 ra lệnh cho tất cả các tuyến rút xuống các giang đỉnh đang sẵn sàng tại bến tàu, đồng thời tôi cùng nhân viên pḥng hành quân mang theo tài liệu chuyển xuống chiếc soái đỉnh của một Giang đoàn Thủy Bộ.
Cuộc rút quân xuống các giang đỉnh diễn tiến trong ṿng kỷ luật và trật tự, hoàn tất dưới làn mưa pháo của địch trong ṿng một giờ.
Sau đó các chiến đỉnh nhập vào với Giang đoàn bạn, phối hợp bố trí từ kho xăng Nhà Bè đến ngă ba sông Ḷng Tàu, Soài Rạp và phản pháo vào địch quân đang bắn từ phía bên kia sông.

Địch ngưng pháo kích khi tia sáng đầu ngày bắt đầu le lói trên hàng cây dừa nước hai bên bờ sông. Tôi liên lạc máy với toán kích đang nằm tại hướng hạ gịng và được biết địch cũng vừa ngưng pháo vào Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè và vẫn chưa thấy địch tấn công bằng đường bộ. Tôi gọi máy cho vị Sĩ quan Chỉ huy Giang đoàn bạn và thông báo cho biết là tôi sẽ trở về Căn cứ để thám sát t́nh h́nh và tái phối trí đơn vị. Trời đă bắt đầu sáng hẳn khi đoàn chiến đỉnh cặp bến tàu Căn cứ vào lúc gần 0700 giờ ngày 30 tháng 4. Nhân viên lần lượt đổ bộ lên bờ và được lệnh ra các vọng gác.
Nh́n cảnh điêu tàn của đơn vị, lửa vẫn c̣n cháy tại nhà kho, nhà máy đèn tan tành, tôi vẫn giữ vững niềm tin là đơn vị c̣n đứng vững để tiếp tục chiến đấu. Tôi ra lệnh phá hủy những tài liệu không cần thiết và cố gắng gọi máy liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hải Quân.
Tôi hy vọng Bộ Tư Lệnh Hải Quân vẫn c̣n và mong liên lạc được với những người chỉ huy ở lại, để nhận chỉ thị. Sau khi đi duyệt qua t́nh h́nh căn cứ, khi trở về pḥng hành quân, tôi được báo cáo là Sài G̣n đang rối loạn, Bộ Tư Lệnh Hải Quân không trả lời máy.
Tôi phân vân rồi ra lệnh mở kho thực phẩm để phân phối cho các đơn vị và các Giang đoàn đang triệt thối về đây. Những chiến đỉnh thuộc nhiều đơn vị khác nhau như là Tuần thám, Phóng Thủy Hỏa, Thủy Bộ, Xung Phong, Trục Lôi, tất cả hơn 100 giang đỉnh không có Đơn vị trưởng đang xin tạm trú tại nơi này.

Khoảng 10 giờ sáng lúc vừa quay về Bộ Chỉ Huy, bỗng nhiên tôi nghe tiếng chân chạy rộn rịp, tiếng máy xe Honda và xe Vespa nổ ồn ào. Nhân viên của tôi đùng đùng bỏ hàng ngũ, vất lại súng đạn và chạy ra phía cổng chánh. Tôi ra lệnh chận lại để t́m hiểu lư do và được biết nhân viên mở radio nghe nói Sài G̣n rối loạn, sợ gia đ́nh vợ con thất lạc nên chúng nó xin phép được trở về lo cho gia đ́nh.
Thế là hết, không ai c̣n tinh thần để ở lại chiến đấu nữa, mà Nhân viên của tôi chiến đấu cho ai ở giờ phút này, trong khi những người khác đă đưa vợ con ra ngoại quốc rồi chạy theo ra biển thoát nạn.
Tôi thở dài chán nản và cảm thấy niềm uất ức dâng tràn lên trong tim.
Chỉ trong khoảng khắc đơn vị đă trở nên một băi vắng bóng người, chỉ c̣n lại súng ống bỏ lại đầy trên nền đất lạnh...



Trời đổ mưa ào xuống khi chiếc tàu đánh cá chạy ngang qua ngă ba sông Nhà Bè, một hướng chảy về Cát Lái, một ngă xuôi ra sông Ḷng Tào, Soài Rạp. Người tỵ nạn đứng ngồi trên sàn tàu, chen chúc nhau dưới các tấm ny lông, thân h́nh co ro với chiếc áo mưa, trong khi gió sông thổi mạnh phía sau lái, làm tăng tốc lực thêm cho con tàu đi biển loại nhỏ. Các quân nhân Lôi hổ, hờm sẵn súng tiểu liên, phóng lựu M79, hướng về mặt sông, nơi thuyền bè của dân di tản đang xuôi ra biển Vũng Tàu.

Trận mưa đám mây không kéo dài lâu lắm, gió mạnh đă bắt đầu dịu xuống và bầu trời trở nên quang đảng, ánh nắng buổi xế trưa lại le lói xuyên qua các vầng mây xám đen, đang bay về phương trời xa. Từ hướng kho xăng Nhà Bè, hàng chục chiến đỉnh Hải quân thuộc các Giang đoàn Xung Phong, Thủy Bộ, Trục Lôi... đang chậm răi giang hành về hướng Sài g̣n. Mọi người trên chiếc tàu đánh cá thắc mắc, không lẽ cấp Chỉ huy của toán chiến đỉnh này không biết ǵ về việc Tướng Dương văn Minh đầu hàng, Sài G̣n đă thất thủ và Bộ Tư lệnh Hải quân đă bị Việt Cộng vào chiếm rồi hay sao? Lúc bấy giờ đă hơn 12 giờ rưởi trưa, một vài người khoác tay về phía các giang đỉnh đang dẫn đầu, ra hiệu cho các thủy thủ mặc quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt. Dân di tản muốn liên lạc và bảo những chiến hữu này hăy quay tàu chạy ra biển, thay v́ tiếp tục về hướng Sài G̣n.

Phía trước mặt bên tả hạm, có vài chiếc tàu cũng lớn xấp xỉ bằng tàu đánh cá này. Các nhân viên trên vài chiến đỉnh loại nhỏ của Liên đoàn Thủy Bộ và Tuần Thám có lẽ như đă nhận hiểu thủ hiệu. Họ quay chiến đỉnh trở lại, và lái tàu chạy theo sau những tàu đánh cá, rồi một vài người trong thủy thủ đoàn cổi áo giáp, đeo các sợi dây thừng, leo lên tàu lớn và bỏ lại chiến đỉnh trôi bập bềnh trên sông. Cũng như nhiều quân nhân Hải quân không có gia đ́nh ở Sài G̣n, những thủy thủ này đă quyết định theo các tàu thuyền di tản, v́ thấy mọi người đều bỏ quê hương ra đi.

Tôi ở trên soái đỉnh của Giang đoàn Thủy Bộ và đang cùng đoàn chiến đỉnh gần 50 chiếc, hải hành về tŕnh diện Bộ Tư lệnh Hải quân tại bến Bạch đằng. Cô Y tá thuộc Bệnh viện của Căn cứ báo cáo cho tôi, về việc Tướng Minh đă đầu hàng quân Cộng sản miền Bắc cũng như ông vừa ra lệnh tất cả các đơn vị thuộc Quân lực Việt Nam Cọng Ḥa buông súng và ngưng chiến đấu. Tôi sững sờ, không tin những ǵ đang nghe, rồi nghẹn ngào uất ức và đau buồn dâng tràn trong tim.

Khi chiếc tàu đánh cá chạy ngược chiều với chiếc chiến đỉnh trang bị hải pháo và pháo tháp nặng nề này, Đại tá Ch. là một Sĩ quan Hải quân ngành Cơ khí, người chỉ huy tàu đánh cá, ra lệnh chuẩn bị ngừng tàu lại. Ông ấy vừa nhận ra người bạn Hải quân, một Sĩ quan cấp bậc Trung tá ngành chỉ huy, thuộc Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè, đang đứng trên boong soái đỉnh.

Ông dùng loa nói chuyện và thông báo t́nh h́nh cho tôi, Đại tá Ch. cho tôi biết về t́nh trạng rối ren tại Sài G̣n và chấp thuận cho gia đ́nh tôi quá giang, đồng thời yêu cầu tôi giúp ông ta đưa tàu này ra biển. V́ người tài công có nhiệm vụ lái tàu, phút cuối đă không đến được và cho đến bây giờ trên tàu không có dụng cụ hải hành, bản đồ... và chỉ có một la bàn từ dùng cho việc định hướng lái tàu. Sài G̣n đă mất vào tay Cộng sản và không c̣n ǵ để tiếp tục chiến đấu nữa cả. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, như người mất hồn, tôi gọi máy hỏi ư kiến thuyền trưởng các chiến đỉnh và tất cả đều khuyến khích tôi nên cùng gia đ́nh theo tàu đánh cá ra khỏi vùng lửa đạn. Họ đồng ư và hứa với tôi, sẽ t́m phương tiện để đưa gia đ́nh của họ, đang c̣n kẹt ở Sài G̣n, di tản ra biển t́m Tự do. Tôi ngậm ngùi chào từ giă các chiến hữu thân mến đă cùng tôi tử thủ và chiến đấu suốt đêm qua, chúc mọi người gặp nhiều may mắn. Sau đó tôi đưa vợ tôi, Minh và bốn đứa con đang c̣n nhỏ, lên chiếc tàu đánh cá rồi phụ giúp Đại tá Ch. vận chuyển tàu giang hành ngang qua kho xăng Nhà Bè.

Từ xa một cột khói đen bay lên cao từ hướng Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận, suốt đêm bị địch pháo kích phá hủy tan tành và gây nên những đám cháy dữ dội. Tàu ngưng máy một lúc để chúng tôi đón vài nhân viên Hải quân thuộc Căn cứ Yểm trợ này lên. Sau đó mọi người trên tàu đánh cá quyên góp tiền Việt Nam mà họ c̣n mang theo, nay đă trở thành vô giá trị đối với người di tản, chuyền xuống các chiến đỉnh cho các thủy thủ, hoặc v́ lư do này hay lư do khác, quyết định ở lại với gia đ́nh và quê hương. Các người Tàu đưa hết những xấp giấy 1000 đồng cho quân nhân Hải quân với tất cả tấm ḷng. Nhân viên giang đỉnh cũng cảm động cám ơn, rồi họ mang ra ba bốn bao gạo, vài thùng ḿ gói tặng cho người di tản. Họ ngậm ngùi chúc nhau nhiều may mắn và biết đây là lần đầu tiên họ gặp nhau và cũng là lần cuối. Các thuyền trưởng chiến đỉnh đưa cho vị Chỉ huy cũ của ḿnh vài bản đồ khu vực sông Ḷng Tào, từ Soài Rạp ra đến Vũng Tàu, loại bản đồ hành quân của đơn vị Bộ binh. Họ c̣n cho tôi biết là chiếc thương thuyền Việt Nam Thương Tín bị Việt Cộng chận bắn trên sông Ḷng Tào khoảng nửa giờ trước đây, vào lúc 1 giờ 30 chiều, một số người bị tử thương, trong số đó có nhà văn Chu Tử. Khi nghe được tin này, Đại tá Ch. và tôi quyết định thay đổi giang tŕnh, thay v́ dùng sông Ḷng Tào chật hẹp dễ bị tấn công bởi quân Cộng sản, tôi sẽ vận chuyển tàu theo lộ tŕnh sông Soài Rạp, mặc dù khó hải hành nhưng v́ sông rất rộng nên có thể tránh được nguy hiểm và an toàn hơn.

Trên sông tàu thuyền tấp nập với những tàu chở hàng LCU của Quân vận, ghe đánh cá dân sự, Giang tốc đỉnh PBR thuộc các Liên đoàn Tuần Thám, phăng phăng rẽ ḍng nước đục ngầu, đầy bùn phù sa và rong bèo lẫn lục b́nh, cuồn cuộn trôi ra phía vịnh Vũng Tàu. Gió mát thổi từng cơn từ phía hàng dừa nước hai bên bờ, mặt nước sông như sáng hẳn lên dưới ánh nắng chiều, lóng lánh ngàn v́ sao nhỏ phản chiếu từ gịng sông uốn khúc. Vài con chim c̣, chim vạc với đôi cánh dài nhẹ lướt qua những lùm cây thấp bên gành, cạnh rừng lau sậy mọc lưa thưa. Thiên nhiên vẫn b́nh thản như không có ǵ thay đổi trước mắt dân di tản. Tuy nhiên mọi người đă nhận thức rằng kể từ giờ phút này, họ bắt đầu một cuộc đổi đời mà định mệnh đă làm cho dân miền Nam phải xa ĺa quê cha đất tổ và bỏ lại tất cả những ǵ quư giá nhất của ḿnh v́ không muốn sống dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những việc ǵ sẽ đến trong giờ phút sắp tới đều có ảnh hưởng đến cả cuộc đời của người đi t́m ánh sáng Tự do và an toàn cho cá nhân cũng như gia đ́nh họ.

Tàu tiếp tục giang hành với vận tốc chậm v́ ḷng sông Soài Rạp thay đổi, sâu cạn bất thường, nếu không có kinh nghiệm, tàu sẽ bị mắc cạn, do đó tôi cẩn thận theo sát các chiến đỉnh chạy trước để tránh vùng nước cạn. Thỉnh thoảng tôi ngừng tàu lại, và đón vớt quân nhân đủ mọi cấp thuộc các Quân binh chủng di tản trên các tàu nhỏ, chật hẹp, sắp bị ch́m, lên tàu đánh cá này. Từ xa vịnh Vũng Tàu đă thấy xuất hiện về phía tả hạm với ngọn núi nhô lên cao và ngọn hải đăng trắng xóa nằm trên đỉnh.

Trên không thỉnh thoảng vài chiếc trực thăng thuộc Không quân Việt Nam Cọng ḥa trực chỉ về hướng đông, có lẽ bay ra Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Từ trong Căn Cứ Yểm trợ Tiếp vận Cát Lỡ, các chiến đỉnh Hải quân và Quân vận, chở đầy người tỵ nạn, chen chúc chạy ngang Băi trước Vũng Tàu, xuôi ra biển. Về phía nam, các chiến đỉnh thuộc đơn vị Hải quân từ Vùng 4 Sông Ng̣i nối đuôi nhau đổ ra cửa sông. Một vài chiếc cặp lại bên cạnh các thuyền đánh cá lớn, hay chạy theo các chiến hạm Hải quân để yêu cầu được quá giang, v́ chiến đỉnh của họ quá nhỏ, không thể đi xa ra biển khơi. Tàu đánh cá của Đại tá Ch. cũng lại vớt nhiều gia đ́nh Hải quân trong đám chiến đỉnh này.

Vào khoảng 7 giờ tối, tàu tiếp tục chạy về phía đông nam, sau khi tôi dùng chiếc la bàn từ để định hướng và lấy ngọn hải đăng trên đỉnh núi Vũng Tàu làm chuẩn. Dân di tản ngồi chen chúc ngổn ngang trên sàn tàu nhỏ xíu, phía trước và trên boong thượng phía sau lái, mọi người ngồi yên tại chỗ, không thể di chuyển đi đâu được cả. Tổng số người đi t́m Tự do, kể cả người Tàu Chợ Lớn và gia đ́nh, đă lên đến trên dưới 300 người, so với khoảng gần 200 người lúc tàu chạy ngang qua Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè vào lúc hơn 2 giờ chiều ngày hôm nay.

Mặt trời từ từ lặn xuống sau rừng cây đang đổi qua màu đen thẫm về phía tây bắc. Chiếc tàu chở đoàn người tỵ nạn, dật dờ, lắc lư trên những đợt sóng dài giữa biển cả mênh mông, trong một buổi hoàng hôn màu tím nhạt, bắt đầu buông phủ và bao trùm vũ trụ. Từng tia sáng chớp lên rồi tắt ngúm từ ngọn hải đăng Vũng Tàu như cây đèn trời giữa đêm tối, gieo trong ḷng người di tản nỗi buồn cô đơn trống vắng. Họ cảm thấy tủi thân cho số phận ḿnh, những người đi đày như dân Do Thái, lênh đênh trên chiếc tàu Exodus đi t́m đất thánh ngày xa xưa. Tương lai và thân phận của người Việt tỵ nạn tựa màn đêm bao quanh họ. Hy vọng được cứu vớt thật là mong manh như t́m nước uống trên sa mạc, tùy thuộc vào sự may mắn và định mệnh đẩy đưa.

Khoảng 10 giờ tối khi tàu cách xa bờ biển Vũng Tàu khoảng chừng 20 hải lư, mọi người đang chập chờn t́m quên qua giấc ngủ sau một ngày tinh thần căng thẳng và mệt mơi, bỗng họ chợt tỉnh dậy v́ nghe tiếng xôn xao từ pḥng lái. H́nh như Đại tá Ch. cho biết có một thương thuyền lớn thắp đèn sáng trưng phía bên tả hạm cách chừng một hải lư. Ông ra lệnh tàu tăng máy và hướng về chiếc thương thuyền đó. Khi đến gần, ông dùng ống loa và kêu gọi vị thuyền trưởng xin được phép tiếp cứu và cho dân tỵ nạn Cộng sản lên tàu.

Đây là một thương thuyền Đại Hàn trên đường về bến tại Hán Thành. Ông thuyền trưởng thương thuyền đặt loa cho biết là ông không thể cho người tỵ nạn Việt Nam lên tàu của ông được v́ không có phép của công ty và của chính phủ Đại Hàn. Họ đang trong t́nh trạng phân vân chưa biết phải đối phó thế nào trước t́nh h́nh sụp đổ quá nhanh của miền Nam Việt Nam. Ông thuyền trưởng rất thông cảm và thương hại muốn giúp người Việt Nam đang gặp hoạn nạn. Nhưng v́ vấn đề chính trị mà Quốc gia ông phải đối phó, chính phủ Đại Hàn cần thời gian cân nhắc, t́m đường lối chính trị hợp với họ, trước khi đi đến quyết định trợ giúp công dân của Việt Nam, một nước trước đây là đồng minh của Đại Hàn trong cuộc chiến vừa tàn. Sau khi dứt lời, ông ta cầu chúc Thượng đế ban phước lành cho mọi người, và hy vọng những thương thuyền của các nước khác, đă có chỉ thị cho phép nhận người tỵ nạn Việt Nam, sẽ đón những người di tản lên tàu. Thế rồi chiếc thương thuyền mang quốc tịch Đại Hàn đổi hướng đông bắc, trực chỉ về phía đảo Hải Nam, để lại sau lưng, trên biển một con tàu nhỏ chở đầy những người di tản thất vọng, đang ngậm ngùi nhận thức được cái giá tủi nhục đầu tiên phải trả khi bị nhân loại ngoảnh mặt từ chối giúp đỡ.

Bầu trời đầu tháng 5 dương lịch, đầy sao lấp lánh dán trên ṿm đen vĩ đại. Vầng trăng nửa vành tỏa tia sáng nhạt xuống vùng biển Đông, không đủ soi đường cho các chiến hạm, tàu đánh cá, ghe Kiên giang, xà lan, thuyền buồm... đang bập bềnh hướng về phía mặt trời mọc và hy vọng được cứu giúp bởi người bạn đồng minh Hoa Kỳ.

Fairfax, Virginia
39 năm sau ngày di tản